Share

RIEHL HOUSE: HIỆN THỰC PHÊ PHÁN VÀ KIẾN TRÚC NHÀ ĐỒNG QUÊ

RIEHL HOUSE: HIỆN THỰC PHÊ PHÁN VÀ KIẾN TRÚC NHÀ ĐỒNG QUÊ

RIEHL HOUSE – KIẾN TRÚC XÂY DỰNG NHÀ ĐỒNG QUÊ

Năm 1906, Bruno Paul đã giới thiệu Mies cho nhà triết học Alois Riehl và vợ ông – bà Sophie. Họ mong muốn xây dựng một ngôi nhà yên tĩnh ở một vùng ngoại ô thời thượng của Berlin – thành phố Potsdam-Neubabelsberg để nghỉ dưỡng vào mùa hè, dịp cuối tuần cũng như khi nghỉ hưu. Riehl là một giáo sư nổi tiếng về triết học của trường Đại học Friedrich-Wilhelm Berlin, và gia đình Riehl trở thành những người bảo trợ đầu tiên của kiến trúc sư Mies. Mặc dù chưa rõ lý do nhận được sự tin tưởng từ khách hàng, Mies vẫn tự tin vào kinh nghiệm của mình có thể hoàn thành tốt thử thách này.

Vợ chồng Riehl nhận thức rõ về các phong trào cải cách ảnh hưởng đến thiết kế nhà ở và nghệ thuật ứng dụng, nhưng họ từ chối áp dụng ý tưởng kết hợp nghệ thuật và cuộc sống – một ý tưởng nền tảng đại diện cho những nỗ lực của phong trào Tân nghệ thuật trong việc tăng cảm giác thú vị cho những trải nghiệm hàng ngày. Họ cũng không theo đuổi một công trình nghệ thuật tổng thể. Thay vào đó, họ muốn ngôi nhà mang hơi hướng đơn giản hơn, giống như phong trào Nghệ thuật Thủ công nghiêm túc, thiết thực ở Anh. Họ mơ về một ngôi nhà phong cách đồng quê (Country House) với lối sống lành mạnh và bình lặng trên mặt đất. Ngôi nhà không chỉ cung cấp một liều thuốc chữa lành cho cuộc sống đô thị tắc nghẽn và độc hại mà còn đại diện cho một kiểu biệt thự ngoại ô điển hình – nơi mở ra một cuộc sống tự do và những cuộc trò chuyện thoải mái.

KTS Mies van der Rohe ở Riehl House ( khoảng 1912)

Mối quan hệ giữa gia đình nhà Riehl và KTS Mies không chỉ đơn thuần là mối quan hệ giữa khách hàng với kiến ​​trúc sư mà đã tiến xa hơn nhiều. Họ coi Mies như con trai của mình. Họ nuôi dưỡng sự phát triển trí tuệ cá nhân của ông, đưa ông đi du lịch Ý và giới thiệu ông với những nhà trí thức xã hội ở Berlin. Ngoài ra, Mies còn gặp gỡ và trở thành người bạn thân thiết của Eduard Spranger – một người con nuôi khác của gia đình Riehl. Ngôi nhà được hoàn thành vào năm 1907, được công nhận là một công trình nổi bật của một thanh niên hai mươi tuổi đến từ tỉnh lẻ, không học đại học và chỉ mới đến Berlin được hai năm. Tuy nhiên, dựa trên các quy ước hiện có, ngôi nhà như một sự chuyển đổi tài tình các tiền lệ và chứa đựng nhiều ý tưởng mà sau này được Mies phát triển theo những hướng mới. Ngôi nhà ngay lập tức được các nhà phê bình công nhận.

Trong khi các biệt thự lân cận được xây dựng như những biểu tượng thời Phục hưng của Ý hoặc Đức và nằm trong những khu vườn nhỏ đẹp như tranh vẽ thì Riehl House được Mies thiết kế như một khối hộp đơn giản mang phong cách tân Biedermeier phù hợp với mô hình địa phương. Ngôi nhà sơn vữa màu vàng nhạt hình chữ nhật có mái dốc đầu hồi. Ngôi nhà được xây dựng với độ căng và đường nét hình học rõ ràng, các chi tiết mạnh mẽ của ban công, cửa sổ cũng như cửa ra vào, không trang trí thừa thãi. Trung tâm mặt tiền của lối vào được trang trí những vòng hoa xen kẽ thanh lịch bằng vữa. Về nội thất, các căn phòng đơn giản và sáng sủa được bố trí cân đối; được xây dựng bằng những vật liệu khiêm tốn nhưng độ bền cao. Tuy nhiên, với tất cả sự khiêm tốn và đơn giản đã được nghiên cứu, ngôi nhà mang vẻ đẹp hòa trộn giữa sự tinh tế và phức tạp.

Công trình nằm lệch về một phía và không hướng trực diện ra đường mà lùi vào trong để nhường chỗ cho một vườn hoa trang trọng làm không gian đón tiếp và lối vào. Do đó, lối đi dẫn từ ngoài đường vào nhà trước tiên mang đến một cái nhìn toàn cảnh về cảnh quan bên ngoài ngôi nhà. Phần còn lại của mảnh đất bằng phẳng mà cả ngôi nhà và khu vườn đều nằm trên làm thành bậc thang, dốc xuống đáng kể về phía hồ Griebnitz đẹp như tranh vẽ và công viên rộng lớn của thành phố Potsdam. Trong khi trục dài của khu vườn nối với mặt đường thì trục ngang bên trái dẫn tới cửa nhà, trục ngang bên phải dẫn tới cầu thang và các khu vườn phía dưới.

Riehl House – Mies van der Rohe

Riehl House là ví dụ điển hình của các nguyên tắc thiết kế nhà ở nông thôn của Hermann Muthesius – người đã nghiên cứu sự xuất hiện của loại hình này ở Anh và sự phù hợp của nó đối với nước Đức. Muthesius từng trải qua cuộc sống đô thị, nơi người ta ở trong khách sạn, giao thông thì tắc nghẽn, mọi thứ lộn xộn và sống xa rời mặt đất. Ngược lại, nhà ở nông thôn cung cấp quyền sở hữu đất, không khí trong lành, yên tĩnh và mọi người có thể ở nhà chơi piano thay vì tham dự các buổi hòa nhạc – vì mục đích giáo dục và xây dựng nhân cách tốt hơn. Đối với giai cấp tư sản, nhà ở nông thôn trở thành cơ sở cho một lối sống thay thế. Phản đối việc đặt các ngôi nhà ở trung tâm của lô đất và chỉ coi khu vườn như một cảnh quan để ngắm nghía, Muthesius lập luận rằng các khu vườn nên được thiết kế để sinh sống. Chúng phải là không gian mở tương đương với phòng khách, nơi có thể được sử dụng để ăn uống, tắm rửa, thậm chí là ngủ. Riehl House được đưa vào ấn bản thứ hai của cuốn sách Landhaus und Garten (Ngôi nhà và Khu vườn), viết bởi Muthesius năm 1910.

Ngay sau thời khắc chuyển giao thế kỷ, Muthesius nhận ra rằng nhà ở nông thôn vẫn còn quá đắt để có thể dành cho bất kỳ ai ngoài giới thượng lưu. Việc phổ biến nó sẽ đến nhưng bị phụ thuộc vào việc cải cách tư hữu ruộng đất, chấm dứt tình trạng đầu cơ đất đai, cải thiện giao thông (đặc biệt là đường sắt) và tích hợp các phương pháp công nghiệp hóa xây dựng nhà ở. Sự tương hỗ về chức năng giữa bên trong và bên ngoài phải được kết hợp bằng cách gộp cả tòa nhà và khu vườn vào một thể kiến trúc thống nhất. Phong trào cải cách sân vườn đã thúc đẩy một mô hình với khu vườn mang tính ‘kiến trúc’, trong đó có quy hoạch trục, trồng cây theo bố cục hình học và lắp các khung lưới để tạo nên một khu vườn ‘kiến trúc hơn’. Đồng thời, các loài cây mọc tự nhiên, cây lâu năm cứng cáp và cây thường xuân được đưa vào sử dụng phổ biến để thể hiện sự hoang dã của tự nhiên, phá vỡ đường nét của các hình dạng toán học. Loại hình sân vườn này được phát triển ở Đức bởi Muthesius và Paul Schultze-Naumburg (1869-1949); ở Áo bởi Joseph Maria Olbrich (1867-1908) và Josef Hoffmann (1870-1956).

Sơ đồ mặt bằng của Riehl House

Năm 1927, được trao cơ hội tổ chức xây dựng một khu nhà kiểu mẫu cho triển lãm của Hiệp hội Công trình Đức (Deutscher Werkbund), Mies từ đầu đã hình dung ra toàn bộ cấu trúc nhà ở nông thôn với khu vườn tích hợp cho các gia đình trung lưu – khu nhà cực kì nổi tiếng này có tên Weissenhofsiedlung, nằm ở thành phố Stuttgart.

Mặc dù các học giả và nhà phê bình ít chú ý đến những khu vườn của Mies – một số thậm chí còn chỉnh sửa khu vườn trong ảnh và bản vẽ – nhưng Barry Bergdoll sau đó đã chỉ ra tầm quan trọng của những khu vườn đối với quan niệm của Mies về kiến ​​trúc mới – kiến trúc tích hợp nhà và vườn, kết nối bên trong và bên ngoài, biến đổi đô thị trở thành một thành phố xanh và cởi mở. Các kiến trúc sư đã tiến hành thiết kế của họ với sự hợp tác cùng những người làm vườn và nhà thiết kế cảnh quan chuyên nghiệp. Khu vườn của Riehl House là một ví dụ của sự hợp tác đó, nó được thiết kế bởi nhà tạo giống cây trồng và kiến ​​trúc sư cảnh quan Karl Foerster (1874-1970).

Vườn ươm của Karl là những thiên đường vô cùng nổi tiếng: đầu tiên là khu vườn ở Berlin-Westend và sau đó là ở Potsdam. Là con trai của người thợ làm vườn nổi tiếng của hoàng gia - ông Wilhelm Foerster (1832–1921) và nữ họa sĩ Ina Foerster (1848-1908), Karl đã phát triển nhiều giống cây lâu năm nổi tiếng có khả năng phục hồi, có sức sống mãnh liệt và rất đẹp. Ông khuyến khích việc trồng các loài có sẵn trong môi trường tự nhiên của chúng thay vì nhập khẩu cây mẫu và cây ngoại lai - quan điểm này đã thống trị thiết kế sân vườn vào cuối thế kỷ XIX. Đồng thời, với vai trò là một giảng viên và người viết thường xuyên, Karl đã cống hiến hết mình cho sự nghiệp giáo dục cộng đồng, hiểu “khu vườn” theo nghĩa giáo khoa là phản ánh các chu kỳ của tự nhiên và tiết lộ hoạt động bên trong của nó.

Khi thiết kế Riehl House, ông đã nghe theo sự hướng dẫn của cha mình – người đã từng cộng tác với nhà tự nhiên học Alexander von Humboldt (1769-1859). Karl Foerster đã đưa một số hình ảnh màu sắc nổi bật của khu vườn Rieh mà ông tự chụp vào trong cuốn sách bán chạy nhất đầu tiên của ông – cuốn Winterharte Blütenstauden und Sträucher der Neuzeit (Tạm dịch: Cây lâu năm và cây bụi có hoa cứng thời kỳ hiện đại, 1911). Trong cuốn sách, ông giải thích rằng những cây lâu năm cao và cứng cáp có thể tăng cường sự chặt chẽ về mặt không gian của khu vườn kiến ​​trúc, với bố cục gần như sẽ thay đổi theo mùa.

Ảnh màu khu vườn và Riehl House; nằm trong cuốn sách Winterharte Blütenstauden und Sträucher der Neuzeit – Karl Foerster, xuất bản năm 1911

Riehl House là ngôi nhà đầu tiên trong sự nghiệp của Mies có một khu vườn như vậy, được đặt ở vị trí liền kề với đường và có tầm nhìn xa bao quát khung cảnh cây cối rậm rạp. Những dàn cây leo lan dọc theo bức tường khuyến khích thiên nhiên phát triển trên chính các tòa nhà. Năm 1930, Mies tiếp tục kết hợp mô hình nhà vườn trong công trình Tugendhat House của mình. Niềm đam mê của ông đối với thiên nhiên thể hiện rõ qua những chiếc lá nhỏ ép trong một cuốn sách viết về khoa học tự nhiên mà ông sưu tầm được. Khu vườn phía dưới của Riehl House có bãi cỏ dốc, rừng cây hoang vu và đẹp như tranh vẽ, đẹp hơn khu vườn trang trọng phía trên.

Nhìn từ trên cao, ngôi nhà trông giản dị và có nét đặc trưng của gia đình, nhưng khi nhìn từ bên dưới, nó lại mang dáng vẻ cổ điển và hoành tráng. Đỉnh mái nhô lên cao vút, vượt lên trên cả bức tường chắn đồ sộ dọc với đầu hồi mái nổi hình tam giác trừu tượng ở phía trên lô gia. Các cột của lô gia mở rộng về phía tường chắn, tạo ra một điểm đối kháng thẳng đứng mạnh mẽ với bức tường ngang. Tất cả những điều này khiến cho Riehl House trông giống như một ngôi đền cổ nằm trong công viên với lối đi của khu vườn nối thẳng ra con đường mà Hoàng đế Kaiser Wilhelm II vẫn thường xuyên đi lại, phía xa là các dinh thự hoàng gia và tư sản và một số địa danh tân cổ điển của Karl Friedrich Schinkel (1781-1841).

Sự kết hợp kiến trúc của một ngôi nhà nông thôn với một ngôi đền đặc trưng làm cho Riehl House trở nên đặc biệt khi vừa mang nét đẹp truyền thống cổ điển quý tộc, vừa có dáng vẻ đậm chất bản địa địa phương. Hai khoảnh khắc của quá khứ được gợi lại và giao thoa trong một hình thức mới.

Riehl House với điểm nhìn từ phía đường đi

Sự đơn giản của ngôi nhà dự đoán một lối sống đơn giản không kém. Tuy nhiên, một số quy ước chỉ ra điều ngược lại. Ngoài các phòng như phòng khách, phòng làm việc, phòng ngủ và phòng tắm đã được phân định sẵn chức năng cụ thể thì sảnh trung tâm là nơi quy tụ rất nhiều chức năng khác nhau: không chỉ là lối vào, là “cửa ngõ” dẫn tới tất cả các phòng khác mà còn là khu vực phục vụ ăn uống. Theo định nghĩa tiếng Anh và tiếng bản địa cổ, ‘phòng đa chức năng’ có thể được điều chỉnh cho phù hợp với nhiều hoạt động và nhiều dịp khác nhau. Ở khía cạnh này, sảnh trung tâm là ví dụ sơ khai của một không gian linh hoạt “mang tầm vũ trụ”, đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp sau này của Mies và được áp dụng trong các công trình như SR Crown Hall ở Chicago (1950-6) hay Phòng triển lãm Quốc gia mới ở Berlin (1962-8).

Sảnh trung tâm sẽ thông với cửa ra vào vào, dẫn đến cầu thang, phòng khách và phòng làm việc. Đây cũng là nơi để may vá và phục vụ ăn uống thông thường, phía trước có hành lang mở ra cảnh quan bên ngoài. Việc kết nối các không gian khác nhau đòi hỏi phải tạo nhiều cánh cửa từ khu vực trung tâm. Mies đã lót các bức tường bằng tấm gỗ mô-đun và thiết kế những cánh cửa sao cho phù hợp với vị trí của cầu thang, cửa ra vào và các hốc tường. Khi đóng lại, những cánh cửa này sẽ được hút vào tấm ốp tường. Như vậy, sảnh trung tâm vừa là một căn phòng mở ra các không gian khác ở mọi phía (khi cửa mở), vừa là một không gian kiến ​​trúc thống nhất và khép kín của sự bình tĩnh hướng nội (khi cửa đóng). Đóng và mở, độc lập và phụ thuộc lẫn nhau, kiến ​​trúc của sảnh trung tâm pha trộn giữa sự trang trọng về mặt hình thức và không trang trọng trong cách sử dụng.

Riehl House; Sảnh trung tâm, hội trường đa năng, 1907

Bên ngoài, các mặt nhẵn của ngôi nhà được khớp nối một cách tinh tế với các trụ đứng nông đang nâng đỡ một khung chắn ngang phía nằm phía dưới của mái dốc. Ở phía nam của ngôi nhà có một ban công nhỏ hướng về phía đường đi, một nơi lý tưởng để ngồi xuống và thư giãn. Nhờ vậy mà Riehl House trông giống như một gian hàng thiết kế mở nhưng đồng thời lại là một khối mờ đục, là sự kết hợp nhấn mạnh tính hai mặt của hội trường bên trong. Kiến trúc của ngôi nhà vừa đóng vừa mở, vừa mờ đục vừa trong suốt, vừa độc lập vừa đan xen với các không gian và cảnh quan xung quanh nó, giống như một vật thể ba chiều độc lập, đồng thời hoạt động một cách thống nhất tuyệt vời với môi trường tự nhiên. Riehl House là sự tổng hòa giữa các lĩnh vực trí tuệ và tự nhiên, bên trong và bên ngoài, nhân tạo và hữu cơ, tính độc lập vẫn tồn tại trong khi những hoạt động tương tác được tổ chức.

Mies sử dụng bậc thang để đồng thời tách biệt và liên kết chủ thể (ngôi nhà) với cảnh quan. Ngoài ra, việc tạo một con dốc sâu xuống phía cuối khu vườn có tác dụng loại bỏ vùng trung gian ra khỏi tầm nhìn, làm cho phong cảnh nằm theo chiều ngang, trông tượng hình hơn và hơn hết là tách biệt với khung cảnh bên ngoài. Bằng cách nâng cao khoảng cách giữa thảm thực vật trong khu vườn và ngoại cảnh, Mies đã phá vỡ tính liên tục vốn có thể liên kết chủ thể với đối tượng. Điều này giúp dễ dàng chiêm ngưỡng cảnh quan và thúc đẩy sâu sắc hơn nhận thức về mối quan hệ giữa ngôi nhà với thiên nhiên. Dòng chuyển động liên kết giữa khu vườn phía trên và phía dưới – vượt ra khỏi tầm nhìn rồi đi xuống phần thấp hơn thông qua một loạt các ngã rẽ quanh co, dẫn con người bước vào hành trình khám phá, trì hoãn, mất phương hướng và định hướng lại. Khu vườn phía dưới là một rừng cây xanh mang dáng vẻ nguyên bản, hoang sơ vốn có như bồi đắp thêm cho cảnh quan của khu vườn.

Khu vườn dốc phía dưới của Riehl House

Kiến trúc của Riehl House liên kết các thuộc tính kép lại với nhau hơn là phân tách rạch ròi chúng ở trong một tổng thể, giúp những người sinh sống và ghé thăm nó có thể dễ dàng thoát khỏi những căng thẳng trong cuộc sống hàng ngày. Trong đó, nhà Riehl chắc chắn cũng đã đóng một vai trò tích cực trong việc thiết kế nên ngôi nhà của họ. Trong hai thập kỷ tiếp theo, trước khi Riehl qua đời vào năm 1924, sự hình thành trí tuệ của Mies được dẫn dắt và trở nên kỷ luật hơn khi Riehl hướng Mies đến những công trình triết học và lý thuyết văn hóa quan trọng, đồng thời giới thiệu kiến trúc sư với các tác giả của những lý thuyết đó. Trong số này, những người có ảnh hưởng nhất đối với Mies sẽ là những người cùng thời với ông: Triết học gia Spranger, nhà thần kinh học và sử học nghệ thuật Hans Prinzhorn (1886-1933) và Romano Guardini – người có sở thích và tư duy giống Riehl nhưng đã nghiên cứu sâu hơn một cách có trình tự vào lĩnh vực đạo đức, phân tâm học và thần học. Mies đã gặp gỡ nhiều trí thức Berlin trong các sự kiện xã hội và bữa tối tại ngôi nhà mà gia đình Riehl đặt biệt danh cho nó là Klösterli (tu viện nhỏ) và được sử dụng cho các buổi tụ họp bàn về triết học, trong một không gian yên tĩnh của đất nước, một nơi ẩn mình trong thiên nhiên. Khi chuyển đến Chicago năm 1938, Mies đã mang theo nhiều cuốn sách của họ.

Xét tổng thể, ngôi nhà là sự kết hợp chặt chẽ của tính hai mặt – giữa mở và đóng, giữa hình khối và khung – không phải biểu hiện của một thế giới quan siêu hình mà là một triết lý phê phán thúc đẩy lối sống triết học, đặt câu hỏi và thăm dò các giới hạn của tri thức và bản thân tri thức. Riehl đi theo quan điểm của Kant về siêu hình học và chấp nhận theo đuổi một phương thức triết học thay thế của ông như là sự tìm hiểu các điều kiện khách quan của tri thức chủ quan. Riehl gọi triết học của mình là ‘chủ nghĩa hiện thực phê phán’ để gói gọn niềm tin của mình rằng không có thực tại nào nằm ngoài sự hiện diện của con người, không có thuyết nhị nguyên về tâm và thể, chủ thể và vật thể. Chủ nghĩa của ông là mọi vật tự phản xạ, phô diễn một cách tự giác thay vì coi những tuyên bố về sự thật của nó là điều hiển nhiên. Quan điểm này nhận được nhiều sự đồng tình của những nhân vật hàng đầu trong ngành khoa học, triết học, thần học và nghệ thuật. Riehl tiếp cận triết học thông qua quá trình tiến hóa lịch sử của chính nó hơn là việc tạo ra các hệ thống tư tưởng theo phương pháp lịch sử. Sau này Mies cũng tiếp cận kiến ​​trúc theo hướng tương tự, giải thích kiến ​​trúc mới vào năm 1926 trong mối liên hệ với kiến ​​trúc tốt từ quá khứ đến lịch sử hiện đại cùng các vấn đề của nó.

Mies sở hữu cuốn sách Zur Einführung in die Philosophie der Gegenwart (Giới thiệu về triết học đương đại) – ấn bản năm 1908 của Riehl và ghi chú khá nhiều trong sách. Ông thường mô tả thời hiện đại là thời đại của khoa học và công nghệ, cho thấy rằng cả hai đều cần được nâng cao. Mies giải thích vào năm 1926: ‘Chúng ta không cần hạn chế bớt khoa học, mà khoa học nên hướng tới tinh thần nhiều hơn‘. Tương tự như vậy, vào năm 1950, ông tuyên bố, ‘Bất cứ khi nào công nghệ đạt đến sự hoàn thiện, nó sẽ vượt qua cả kiến ​​trúc.’ Trên thực tế, cuốn sách của Riehl đã cung cấp một bản tóm tắt hiệu quả các câu hỏi và vấn đề mà Mies quan tâm trong suốt cuộc đời ông và những điều giúp ông tạo ra các hình thức kiến ​​trúc đối lập.

Sự hợp tác giữa kiến ​​trúc sư và khách hàng đã giúp Riehl House đạt được một giải pháp thay thế đáng kể cho kiến ​​trúc cải cách, một công trình nhấn mạnh sự phản ánh bản thân, nhận thức thông qua kinh nghiệm và phát triển cá nhân khi đối thoại với thiên nhiên. Mặc dù gợi lên nguồn gốc nguyên thủy, ngôi nhà không siêu hình mà khám phá bản chất và giới hạn của kiến ​​trúc như một dạng kiến ​​thức và khuôn khổ cho lối sống triết học, cởi mở và tự khám phá. Tính hai mặt của nó vừa tượng trưng vừa kích hoạt ý tưởng của Riehl về một chủ thể vừa tự chủ, vừa đan xen trong một mạng lưới các mối quan hệ.

Ngôi nhà và khu vườn cung cấp bối cảnh cho một đặc tính hiện thực quan trọng về trách nhiệm cá nhân thông qua sự phụ thuộc lẫn nhau với xã hội và tự nhiên, một đặc điểm định hình các khía cạnh của chủ nghĩa hiện sinh thời trung cổ. Kiến trúc không được cho là đạt một phong cách dứt khoát trong sự kết hợp với một lối sống xác định, kể cả hầu hết các kiến ​​trúc cải cách. Mặc dù có tinh thần gần gũi hơn với các phong trào đổi mới cuộc sống, trong đó tập trung vào việc tự cải tạo của cá nhân như một điều kiện tiên quyết để chuyển đổi xã hội, nhưng vẫn chưa hẳn là như vậy. Môi trường quan trọng đối với Riehl không phải theo nghĩa xác định mà là bối cảnh hoặc môi trường sống. Cấu trúc kiến ​​trúc, câu hỏi và thách thức, mối quan hệ và đối thoại. Như Nietzsche khuyến khích, mọi người nên noi theo triết gia Socrates và sống một cuộc sống có phản xạ, biết đặt câu hỏi, cởi mở với sự khéo léo và tự tạo; tìm kiếm sự rõ ràng và phát triển, giác ngộ không hồi kết.

CHỦ NGHĨA ‘HIỆN THỰC PHÊ PHÁN’

Riehl giới thiệu về triết học năm 1903, tập trung vào việc triết học trở nên tự ý thức và tự phản xạ về những tuyên bố của chính nó đối với tri thức. Ông bắt đầu không phải với triết học của Aristotle hay Plato về những điều tâm linh mà là với Heraclitus và Socrates. Heraclitus đề xuất rằng tất cả là dòng chảy của sự trở thành, rằng chúng ta chỉ có thể biết quá khứ chứ không phải hiện tại, cái mà chúng ta đang sống, và nền tảng của vạn vật được đưa ra trong cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập. Socrates, mặt khác, đã chứng minh sự khôn ngoan của việc không biết, đặt câu hỏi và trì hoãn câu trả lời. Cả hai đều nhìn theo hướng điều tra phê bình hiện đại, nhấn mạnh các phương pháp tự phản xạ, phân tích và gián tiếp hơn là dựa vào thực tế được đưa ra một cách cảm tính và trực tiếp. Từ Nicolaus Copernicus đến Galileo và Sir Isaac Newton, Riehl đã theo dấu một chặng đường phát triển của khoa học, trong đó con người ngày càng được hòa nhập như một nhân tố và nhân loại đồng thời giành được quyền làm chủ các lực lượng của tự nhiên. Ông đã theo dõi sự phát triển của cơ học như một khoa học phổ thông vào thế kỷ 17, thời đại của việc xây dựng hệ thống vĩ đại, trong các tác phẩm của Thomas Hobbes, Friedrich Wilhelm Joseph Schelling và David Harvey. Riehl đã đánh dấu sự chuyển hướng sang phương pháp và lý trí ở René Descartes, người mà chỉ có toán học là có thể biết được bản thân nó và chỉ có lý tính là có thật. Nhưng chính Locke mới là người được Riehl coi là nhà triết học phê bình đầu tiên vì ông đã tìm hiểu các điều kiện của lý trí. Bước đầu tiên để tự nhận thức là xóa sạch tư tưởng về các khái niệm siêu hình. Riehl trích dẫn Locke, nhưng Spinoza và Helmholtz, vì hoài nghi về sự đồng nhất giữa tri giác và đối tượng tri giác, về sự tồn tại của sự vật và vật chất độc lập với sự hiểu biết của con người. Đối với Locke, chất là một ý tưởng trống rỗng về nội dung, một thuật ngữ mơ hồ để chỉ điều gì đó mà chúng ta không và không thể biết, thay vì một thứ đã chứa đầy ý nghĩa.

Riehl nhấn mạnh vào kiến ​​thức có được thông qua kinh nghiệm, giới thiệu về nền tảng của kiến ​​thức với sự phân biệt của Hume giữa kinh nghiệm là những đại diện được ghi nhớ và như sự sản sinh ra kiến ​​thức mới. Đối với Hume, giá trị nhận thức của khái niệm kinh nghiệm sau này không liên quan gì đến sự thuần khiết hay trực tiếp được cho là của tri thức nhạy cảm mà là với những gì không thể biết được thông qua các khái niệm hoặc lý trí thuần túy, chẳng hạn như mối liên hệ giữa các khái niệm. Thay vì sự thống nhất nguyên thủy, anh ta đưa ra sự quen thuộc; thay vì tất yếu khách quan, ông đưa ra đại diện chủ quan. Ông là người đầu tiên đặt nền móng cho lý thuyết tri thức trong sinh học và sinh lý học, lý thuyết đã trở thành mối quan tâm trung tâm của khoa học thế kỷ 19. Nhưng Riehl cũng chỉ trích Hume vì coi trí thông minh của con người là quá thụ động. Riehl nhận thấy rằng triết học phê phán đã xuất hiện hàng đầu trong thời kỳ Khai sáng nhưng hiểu rằng khai sáng là một giai đoạn trong sự phát triển của cá nhân cũng như sự giáo dục của nhân loại. Ông lập luận, đó không phải là một khoảnh khắc tĩnh, mà là con đường dẫn đến sự hiểu biết và tự quản lý bản thân.

Kant đã vượt xa Hume, Riehl giải thích, khi anh ta tuyên bố rằng sự phán xét là cần thiết trước khi nhận thức trở thành kinh nghiệm. Kinh nghiệm là sản phẩm của suy nghĩ và tuân theo các quy luật và hình thức phán xét. Kant đã tìm cách xác định giá trị khách quan của tri thức của chúng ta, cách nhận thức và phán đoán có thể là tiên nghiệm và tổng hợp – nghĩa là có giá trị từ đối tượng cũng như chủ thể. Bài học lớn của ông là không gian và thời gian là hình thức của vẻ ngoài và như vậy, là hình thức của bản thân sự vật, trong chừng mực chúng được cho là hình thức bên ngoài. Nguồn gốc của chúng là chủ quan, nhưng ý nghĩa của chúng là khách quan. Những hình thức như vậy giúp cho việc nhận biết mọi thứ trở nên khả thi. Nhận thức được rằng nhận thức của con người là trung gian nhưng có khả năng khách quan, Riehl đã phân biệt triết học của Kant với chủ nghĩa duy tâm duy vật về bản thân sự vật, mà sau này đã được những người khác khám phá trong triết học (Schelling) và mỹ học (Konrad Fiedler, 1841-1895). Đối với Kant, lý trí không lấy quy luật của nó từ tự nhiên mà tự nó tạo ra chúng, tiên nghiệm. Tuy nhiên, nó đứng bên trong tự nhiên, không phải bên ngoài nó hay bên trên nó. Vì quy luật của suy nghĩ là quy luật của bản thân sự vật – vì những điều trong kinh nghiệm đứng dưới quy luật của suy nghĩ – ông kết luận rằng kinh nghiệm là nhận thức.

Chuyển hướng trực tiếp hơn sang lĩnh vực khoa học, Riehl lưu ý rằng việc phát hiện ra định luật bảo toàn năng lượng vào giữa thế kỷ 19 đã đánh dấu sự kết thúc của thế giới quan cơ giới và sự khởi đầu của thế giới quan đầy năng lượng. Năm 1842 Mayer chứng minh rằng một lực nhất định không thể bị loại bỏ mà chỉ có thể chuyển sang dạng khác. Lực lượng là không thể phá hủy, có thể biến đổi và không thể vượt qua. Đến với vật lý từ hóa học, ông đã giải thích lại tính không đổi của chất dưới dạng năng lượng, chỉ ra một thuyết khoa học trong đó năng lượng và vật chất là tương đương nhau. Thay vì nguyên tử và lực, ông nói về các dạng và số lượng của năng lượng. Sự chuyển đổi từ cơ học sang năng lượng học này có ý nghĩa sâu sắc đối với triết học vì nó đã khắc phục thuyết nhị nguyên của vật chất và năng lượng, vốn dựa trên thuyết nhị nguyên triết học về thể xác và linh hồn, vật lý và tâm linh. Kant, người mà không có gì tồn tại ngoài tính đại diện, chống lại thuyết nhị nguyên và thay vào đó đưa ra một thuyết triết học, thừa nhận rằng vật lý và tâm linh chỉ là hai cách nhìn khác nhau về cùng một sự vật. Mọi thứ ngoại cảm đều được thành lập về mặt vật lý; mọi thứ vật chất cũng là tâm linh. Ý thức có một lịch sử sinh lý và tương lai xuất hiện. Đời sống ngoại cảm là sản phẩm của sự phát triển hữu cơ. Nhưng nếu ý thức là một sự phát triển thì thế giới cũng vậy, nó phụ thuộc vào ý thức. Khi các cơ quan nhận thức phát triển, thế giới cũng vậy: nó trở nên phong phú hơn, nhiều màu sắc hơn, đầy đủ hơn và rõ ràng hơn. Quy luật tự nhiên và quy luật tư tưởng hòa hợp với nhau.

Trong khi ‘trở lại Kant’ đối với Riehl là một sự kiện báo hiệu trong việc kết nối lại khoa học và triết học, anh không bằng lòng ở lại với Kant. Thay vào đó, ông thấy rằng khoa học triết học (phê bình hoặc tổng hợp) vẫn đang phát triển, giống như sự sống vẫn đang phát triển. Ông trở nên đồng cảm với phần đó của Hegel đã khiến cả thế giới trở thành sự phát triển của tinh thần. Trong vòng xoáy trở thành lịch sử, ông đã thấy trước một giai đoạn phát triển cao hơn hướng tới sự thống nhất, mặc dù đối với Riehl rằng sự phát triển không phải là viển vông và sẽ không bao giờ kết thúc. Riehl cùng với Goethe nhấn mạnh rằng ‘Con người không được sinh ra để giải quyết các vấn đề của thế giới nhưng để tìm kiếm nơi vấn đề bắt đầu và đặt bản thân vào giới hạn của những gì có thể nghĩ được.’

Khi đưa độc giả của mình vượt qua các vấn đề của tri thức chỉ để lại cho họ một mô hình tri thức là chưa được giải quyết và đang phát triển, Riehl đã chuyển sang các vấn đề của cuộc sống, hay chính xác hơn, của Lebensanschauung của chúng ta (quan điểm về cuộc sống). Ông đã phân biệt cuộc sống tinh thần với cả cuộc sống vật chất và tâm linh, vì nó phụ thuộc và phát triển từ các giá trị hướng dẫn chúng ta.

Đối với Riehl, triết học phê phán là điều kiện tiên quyết cho lebensvolle Weltanschauung (một thế giới quan tràn đầy sức sống), nếu không có nó, chúng ta sẽ không nhận ra các giá trị cũng như giá trị của các giá trị. Ông coi đạo đức là việc đặt ra các mục tiêu một cách sáng tạo, trong khi đạo đức chỉ ra các cách để đạt được những mục tiêu này. Nếu cuộc sống được sống bằng cách nội tại hóa các giá trị, thì kiến ​​thức bản thân và giáo dục trở thành chìa khóa. Socrates một lần nữa đảm nhận vị trí trung tâm trong cuộc thảo luận này. Thông qua tấm gương của chính mình, thiên tài sư phạm đã dạy cách sống cởi mở và tự do, cách đặt câu hỏi – ngay cả những câu hỏi cao nhất của cuộc đời – thay vì đưa ra những câu trả lời sẵn sàng. Làm thế nào để sống? Điều gì tốt? Điều gì là xấu? Ở đây, chỉ kiến ​​thức mới có thể và cần thiết. Ông khuyên, hãy làm điều tốt từ kiến ​​thức một mình, không phải thông qua bản năng hay ý thức trách nhiệm mà thông qua kiến ​​thức bên trong hoặc hiểu biết về bản thân, đó là cơ sở của sự vượt qua chính mình.

Riehl cho rằng cuộc sống mà không tự khám phá ra bản thân không phải là cuộc sống đáng được sống. Anh kể lại rằng khi bị đồng bào của mình kết án tử hình, Socrates đã tự do theo ý mình, phục tùng hoàn toàn ý thức. Sự tự chủ về ý chí, tự đặt ra luật lệ là cơ sở của tự do đạo đức và là nền tảng cho sự phát triển của con người. Một quyết định chỉ phù hợp với đạo đức nếu nó phù hợp với toàn bộ con người của chúng ta. Nó cũng cần có lý trí và tập thể, vì chỉ có một ý chí duy nhất cho tất cả những sinh vật có lý trí. Giá trị đạo đức không phải của riêng con người mà là giá trị tinh thần chung. Spranger, người bảo vệ của Riehl và là người đối thoại của Mies, nói về Riehl, ‘phục vụ trong tự do là bản chất của cuộc đời anh ấy’. Sau đó Mies nhắc lại lời kêu gọi phục vụ – ‘Phục vụ hơn là cai trị’ – và hiểu cá nhân không phải là bản sắc riêng biệt mà là bản sắc được trung gian bởi xã hội và mặt khác là tâm trí khách quan. Ông đã áp dụng thói quen đặt câu hỏi của Socrates. Khi đưa ra câu trả lời, chúng vẫn đủ mơ hồ và xiên xẹo để khiến người khác phải suy nghĩ.

Đối với Riehl, cả bản chất và bản thân đều không xác định được danh tính riêng biệt với nhau. Thay vào đó, ông gợi ý rằng cái tôi được hình thành thông qua việc tìm kiếm trật tự khách quan. Nietzsche đã thúc đẩy sự tự do thoát khỏi sự kìm kẹp của truyền thống để có thể nhìn thấy những cơ hội mà cuộc sống có thể mang lại trong tương lai. Tương tự như vậy đối với Riehl, ý chí tự chủ là một giới luật cơ bản nhưng không theo nghĩa cô lập. Ông khuyến khích sự tự khám phá và định nghĩa bản thân, theo đuổi lý trí và trên tinh thần trách nhiệm tập thể. Phương châm của ông là ‘đặt chỗ, không khắc sâu’. Xung đột trong tâm hồn hiện đại giữa ý chí và đại diện, quyền tự chủ và các dàn xếp định trước, đã được Riehl giải quyết thông qua ý tưởng phát triển, bằng hành động phát triển các quan điểm và hình thức mới cuộc sống ra khỏi những cái cũ. Mang ơn các lý thuyết khoa học Chủ nghĩa tinh thần phát triển của Riehl cũng thông báo cho cách tiếp cận của ông đối với đạo đức học. Ông hiểu các giá trị không phải như được phát minh ra mà là được khám phá và công nhận, hay chính xác hơn là được khám phá hoặc đánh giá lại từ quá khứ.

Vào những năm 1830, nhà triết học Arthur Schopenhauer (1788-1860) đã chẩn đoán các tệ nạn của thời hiện đại là vô hồn, vô mục đích và ảo tưởng, điều mà Nietzsche đã mở rộng vào cuối thế kỷ 19 vào phân tích của ông về sự kiệt quệ và suy đồi của xã hội và văn hóa. Về phần mình, Riehl gợi ý rằng tương lai sẽ dựa vào sự xuất hiện của một nhà triết học vĩ đại, một nhân vật vĩ đại có thể là một nhà lãnh đạo của tinh thần. Một số người cho rằng Nietzsche đã là một nhân vật như vậy, nhưng mặc dù Riehl ngưỡng mộ cách ông vượt qua sự bi quan của Schopenhauer bằng cách nâng cao cuộc sống và đánh giá ‘tất cả những gì mạnh mẽ và vĩ đại’, Riehl nhận thấy tư tưởng của Nietzsche thiếu sự chắc chắn và vững vàng về lập trường. Là một người thường xuyên tìm kiếm và hay đặt câu hỏi, Nietzsche vẫn cởi mở với tất cả các trào lưu thời đại, bản thân nó là một câu hỏi và tìm kiếm. Riehl đặt vấn đề với điều này, và cả với chủ nghĩa cá nhân thái quá của Nietzsche, nhắc lại niềm tin của Kant rằng các quy luật đạo đức xuất phát từ bản chất lý trí của con người. Cuối cùng, Riehl một lần nữa quay sang nhà thơ Goethe, người cho rằng nhân cách vĩ đại không sống cho riêng mình mà vì chúng ta là những sinh thể tập thể, đã đi vào văn hóa của dân tộc ông. Chỉ khi chú ý đến điều mà Riehl hiểu như lời kêu gọi của Goethe để ‘biến bản thân trở thành một cơ quan của toàn thể‘ thì cuộc đấu tranh của thời đại đối với nội dung bên trong mới của cuộc sống mới có thể được thực hiện. Chỉ theo nghĩa này, triết học mới có sức mạnh đổi mới cuộc sống và tạo ra văn hóa.

Mies đã đánh dấu những đoạn Riehl viết về kiến ​​thức và đạo đức và mang theo cuốn sách khi ông nhập cư ở Mỹ. Nó chắc chắn đã cung cấp một bản tóm tắt hiệu quả về các câu hỏi và ý tưởng mà ông tiếp tục quan tâm trong suốt phần đời còn lại của mình. Nhiều người đã lập trình cho công việc của ông: mối quan hệ giữa khoa học và triết học; sự căng thẳng giữa các mặt đối lập như thể xác và linh hồn, thể chất và tâm linh, con người và thiên nhiên, cá nhân và tập thể; đạo đức của việc tìm hiểu, tự ý thức, giáo dục và tự hình thành, chú trọng đến các phương pháp, câu hỏi và khám phá; tính khách quan như nhiệm vụ; trải nghiệm như một phương thức nhận thức; cái mới như một sự biến đổi của cái cũ; sự tiến hóa của tư tưởng; và sự phát triển của thế giới qua các đời. Hết lần này đến lần khác anh quay lại những chủ đề này trong tác phẩm của mình và trong tác phẩm anh đọc, tác phẩm này và văn học này thường cập nhật những chủ đề này mà không giải quyết dứt điểm chúng. Trong khi Socrates phục tùng đồng bào của mình trong nhận thức đầy đủ, Mies phục tùng các nhiệm vụ của cuộc sống xuyên hiện đại. Giống như Goethe, ông đã tự biến mình thành một phần của tổng thể.

I BÀI VIẾT DO BBARCHITECTS DỊCH VÀ BIÊN TẬP TỪ SÁCH: MIES / TÁC GIẢ: Detlef Mertins

Share post:

Comment ( 1 )

Leave A Comment

Your email is safe with us.

Contact Me on Zalo